googlecb3e51d0747809e2.html

Mạng xã hội

Facebook Twitter Zing Kết Nối Google Plus Máy ấp trứng thùng xốp

Hôm nay 19-10-17

hỗ trợ trực tuyến
Sản phẩm mới
Video clip
thống kê truy cập

Đang online: 4

  • Trong ngày: 137
  • Trong tuần: 715
  • Lượt truy cập: 75543
  • Kỹ thuật ấp trứng

    Ấp trứng ngan

    ( 17-10-2016 - 10:47 PM ) - Lượt xem: 848

    Kỹ thuật ấp trứng và chăn nuôi một số giống ngan

    Nội dung:

    - Ngan nội

    - Ngan ngoại nhập

    - Ngan nhà

    - Kỹ thuật ấp trứng ngan

    1. Ngan nội:

    Ngan nội là các giống ngan nội địa của Việt Nam. Chúng cũng có nguồn gốc xa xưa từ Nam Mỹ, được nhập vào Việt Nam từ lâu, được nuôi nhiều ở nhiều nơi thuộc vùng Đồng bằng Sông Hồng. Có 3 loại màu lông: trắng (ngan Ré), loang trắng đen (ngan Sen) và màu đen (ngan Trâu)

    • Ngan trắng hay ngan Ré, là loại nuôi khá phổ biến ở Việt Nam, chúng có đặc điểm lông màu trắng tuyền, tầm vóc trung bình, lúc 4 tháng tuổi Còn mái nặng 1,7-1,75 kg, con trống nặng 2,85-2,90 kg. Sản lượng trứng đạt 69-70 quả/năm; tỷ lệ phối và tỷ lệ nở cao. Đây là giống ngan chịu kham khổ, kiếm mồi tốt, đẻ trứng khá, khả năng chống đỡ bệnh tật tốt, thường hay nuôi thành từng vùng như Gia Lâm (Hà Nội), Châu Giang (Hải Dương). Chúng có khối lượng lúc 4 tháng tuổi con mái 1,7 - 1,8 kg/con, con đực 2,8 - 2,9 kg/con.
    • Ngan loang đen trắng hay còn gọi là ngan Sen có bộ lông màu loang đen trắng, tầm vóc to, lúc 4 tháng tuổi con mái nămg 1,7-1,8 kg, con trống nặng 2,9 -3,0 kg. Sản lượng trứng đạt 65-66 quả/năm; tỷ lệ phôi và tỷ lệ nở cao, ngan mái ấp và nuôi con khéo. Ngan loang nuôi rộng rãi khắp nơi. Chúng có khối lượng lúc 4 tháng tuổi, con mái 1,7 - 1,8 kg/con, con đực 2,9 - 3,0 kg/con.
    • Ngan đen hay gọi là ngan trâu. Ngan đen còn rất ít, không được nuôi rộng rãi, vì hầu hết đã bị pha tạp. Giống ngan này toàn thân màu đen tuyền, có tầm vóc to, thô, dáng đi nặng nề, tỷ lệ phôi thấp, nuôi con vụng. Chúng có tầm vóc to, thô, dáng đi nặng nề. Sau 5 tháng ngan bắt đầu đẻ. Một năm đẻ 3 - 5 lứa, năng suất trứng 50 - 75 quả/mái/năm. Khối lượng trứng 65 - 67 g/quả.

     

    Chăn nuôi

    Chuồng nuôi nên bố trí xa khu dân cư, khu công nghiệp, chọn chỗ yên tĩnh. Chuồng cũng phải được thông thoáng, mát về mùa hè và ấm về mùa đông. Trong chuồng cần trang bị đầy đủ các dụng cụ phục vụ cho việc ăn uống của ngan và vệ sinh chuồng trại, nên có sân chơi cho ngan. Tuỳ thuộc vào điều kiện chăn nuôi, mùa vụ và khí hậu mà quyết định mật độ chuồng nuôi, mật độ vừa phải thì ngan sinh trưởng và phát triển tốt và hạn chế được sự lây nhiễm bệnh tật.

    Chọn giống ngan phải được thực hiện ngay từ khi ngan mới nở, chọn những con khỏe mạnh, nhanh nhẹn, lông bông, mắt sáng, bụng gọn, chân mập, cứng cáp, dáng đi vững vàng, có màu sắc lông tơ đặc trưng của giống. Phải phân loại con đực, con cái ngay từ ngày đầu tiên, mở lỗ huyệt ra. Con trống sẽ xuất hiện mấu lồi nhô lên, đó là gai giao cấu của chúng, ở con cái, không có mấu lồi đó. Con mái phải có mào đỏ, thân hình thanh gọn, cân đối, bụng mềm, lỗ huyệt ướt, lông sáng, bóng áp sát vào thân, vùng xương chậu nở rộng. Còn con trống thì phải to khỏe, khối lượng đạt 4–5 kg/con, mào đỏ, dáng hùng dũng, có phản xạ tốt khi được kiểm tra giao cấu. Loại bỏ hết các con có khuyết tật như khoèo chân, hở rốn, khô chân, bết lông, quá nhỏ,...

    Với ngan sinh sản thì thức ăn cho chúng phải đủ chất dinh dưỡng, đủ lượng calo, hàm lượng đạm cao (18%), trong protein phải chú ý tới 2 axit amin là lyzin và methionin. Cần tăng cường chất khoáng (đặc biệt là canxi và photpho). Bổ sung thêm các nguyên tố vi lượng và vitamin (chủ yếu là A, D, D). Cho chúng ăn 2 bữa/ngày. Với ngan thương phẩm cho ăn phân theo bữa và theo dõi, hết bữa ăn mới cho tiếp (để tránh bị ôi thiu). Phải giữ cho cám luôn thơm mới kích thích ngan ăn và tránh mổ, cắn nhau, chúng cần nhiều nước uống hơn ngan sinh sản. Thức ăn đề ngồi ngan là ngô đã luộc chín và Vitamin chuyên dụng cho ngan. Mỗi một con ngan sẽ được nhồi 300g ngô và 2g Vitamin.

    Mặc dù được coi là vật nuôi có khả năng thích nghi cao nhất với điều kiện ngoại cảnh, chịu đựng được một số bất lợi của môi trường sống, ngan, vẫn thường xuyên bị một số căn bệnh quan trọng tấn công, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế. Một số bệnh ở ngan khi đã bị bột phá sẽ nhanh chóng lây lan cho cả đàn, cả vùng rộng lớn và kéo dài trong một thời gian mới có thể dập tắt được như bệnh dịch tả vịt, bệnh phó thương hàn, bệnh tụ huyết trùng và bệnh cúm gia cầm.

     

    2. Ngan ngoại nhập

    Ngan Pháp Là giống ngan nhà có nguồn gốc từ Pháp và có nhiều dòng khác nhau, trong đó có đặc điểm chung là có sản lượng trứng cao và ổn định. Tuổi thành thục sinh dục con trống 28- 29 tuần tuổi. Trung bình, sản lượng trứng qua 2 chu kỳ đẻ đạt 200-210 quả/mái/năm, tỷ lệ phối cao từ 93-94%, tỷ lệ ấp nở  88%. 

    Tuỳ theo mục đích sử dụng khác nhau, các giống ngan trên được chuyển đến các nước khác nhau trên thế giới. Các dòng ngan Pháp gồm:

    • R31: Có màu vằn ngang và xám đen lúc trưởng thành. Loại này chiếm 80% sản phẩm thịt ngan của Pháp. Đây là giống ngan có sức sống và năng suất tốt, độ đồng đều cao. Tuổi giết thịt tốt nhất của ngan trống là 88 ngày tuổi. Lúc này con trống 4,7-4,8 kg; con mái 70 ngày đạt 2,5-2,6 kg. Tỷ lệ thịt xẻ con trông 68%, con mái 66%; tiêu tốn thức ăn 2,75-2,85 kg/kg tăng trọng.
    • R41: Màu đen, khối lượng cơ thể cao nhất. Ở 88 ngày tuổi con trống đạt 4,8-4,9 kg; con mái ở 70 ngày đạt 2,5-2,6 kg. Tỷ lệ thịt xẻ con trống 68%, con mái 66%; tiêu tốn thức ăn 2,75-2,85 kg/kg tăng trọng.
    • R51: Ngan 1 ngày tuổi có lông màu vàng rơm, chân, mỏ có màu hồng hoặc trắng, trên đầu có đốm đen hoặc nâu. Đến tuổi trưởng thành, ngan có màu lông trắng. Mọc lông đầy đủ lúc 11 - 12 tuần tuổi, 4-5 tháng tuổi thay lông. Khối lượng mới nở 55 g/con; 12 tháng tuổi đạt 3,5 kg; 24 tháng tuổi nặng 4,0 kg/con. Tuổi đẻ 5% lúc 200-205 ngày. Khối lượng trứng 75 g/quả. Năng suất trứng 110 quả/mái. Tỷ lệ ngan nở loại 1/tổng số trứng ấp là 80%.
    • R61: Loại này có lông màu xanh xám, là loại hình đặc thù nuôi với thức ăn đặc biệt để lấy gan. Khối lượng gan chiếm tới 10% khối lượng cơ thể. 88 ngày tuổi con trống đạt 4,8-4,9 kg, con mái ở 70 ngày đạt 2,5-2,6 kg. Tỷ lệ thịt xẻ con trống 68%, con mái 66%; tiêu tốn thức ăn 2,60-2,75 kg/kg tăng trọng.
    • R71: Ngan 1 ngày tuỏi có màu lông vàng rơm, có hoặc không có đốm đen trên đầu. Chân, mỏ màu hồng. Khi trưởng thành ngan có màu lông trắng. Khối lượng ngan mới nở 53 g/con, lúc 12 tuần tuổi nặng 3,6 kg, 24 tuần tuổi nặng 4,2 kg/con. Tuổi đẻ 5% lúc 203 ngày. Năng suất trứng/mái/2 chu kỳ 185 - 195 quả. Khối lượng trứng 80 g/quả. Tỷ lệ phôi 93%, tỷ lệ nở loại 1/tổng số trứng ấp là 81%.
    • Ngan Pháp siêu nặng có lông màu trắng tuyền. Mào và tích tai màu đỏ. Khối lượng ngan lúc 1 tuần tuổi 150 g/con, lúc 6 tuần tuổi 1,8 kg và lúc 12 tuần tuổi con trống nặng 4,4 kg, con mái nặng 2,7 kg/con. Sau 165-185 ngày ngan bắt đầu đẻ. Năng suất trứng 95 - 100 quả trong 28 tuần. Khối lượng trứng 80 g/quả.

    Chăn nuôi

    Chuồng nuôi nên bố trí xa khu dân cư, khu công nghiệp, chọn chỗ yên tĩnh. Chuồng cũng phải được thông thoáng, mát về mùa hè và ấm về mùa đông. Trong chuồng cần trang bị đầy đủ các dụng cụ phục vụ cho việc ăn uống của ngan và vệ sinh chuồng trại, nên có sân chơi cho ngan. Tuỳ thuộc vào điều kiện chăn nuôi, mùa vụ và khí hậu mà quyết định mật độ chuồng nuôi, mật độ vừa phải thì ngan sinh trưởng và phát triển tốt và hạn chế được sự lây nhiễm bệnh tật.

    Chọn giống ngan phải được thực hiện ngay từ khi ngan mới nở, chọn những con khỏe mạnh, nhanh nhẹn, lông bông, mắt sáng, bụng gọn, chân mập, cứng cáp, dáng đi vững vàng, có màu sắc lông tơ đặc trưng của giống. Phải phân loại con đực, con cái ngay từ ngày đầu tiên, mở lỗ huyệt ra. Con trống sẽ xuất hiện mấu lồi nhô lên, đó là gai giao cấu của chúng, ở con cái, không có mấu lồi đó. Con mái phải có mào đỏ, thân hình thanh gọn, cân đối, bụng mềm, lỗ huyệt ướt, lông sáng, bóng áp sát vào thân, vùng xương chậu nở rộng. Còn con trống thì phải to khỏe, khối lượng đạt 4–5 kg/con, mào đỏ, dáng hùng dũng, có phản xạ tốt khi được kiểm tra giao cấu. Loại bỏ hết các con có khuyết tật như khoèo chân, hở rốn, khô chân, bết lông, quá nhỏ,...

    Với ngan sinh sản thì thức ăn cho chúng phải đủ chất dinh dưỡng, đủ lượng calo, hàm lượng đạm cao (18%), trong protein phải chú ý tới 2 axit amin là lyzin và methionin. Cần tăng cường chất khoáng (đặc biệt là canxi và photpho). Bổ sung thêm các nguyên tố vi lượng và vitamin (chủ yếu là A, D, D). Cho chúng ăn 2 bữa/ngày. Với ngan thương phẩm cho ăn phân theo bữa và theo dõi, hết bữa ăn mới cho tiếp (để tránh bị ôi thiu). Phải giữ cho cám luôn thơm mới kích thích ngan ăn và tránh mổ, cắn nhau, chúng cần nhiều nước uống hơn ngan sinh sản. Thức ăn đề ngồi ngan là ngô đã luộc chín và Vitamin chuyên dụng cho ngan. Mỗi một con ngan sẽ được nhồi 300g ngô và 2g Vitamin.

    Mặc dù được coi là vật nuôi có khả năng thích nghi cao nhất với điều kiện ngoại cảnh, chịu đựng được một số bất lợi của môi trường sống, ngan, vẫn thường xuyên bị một số căn bệnh quan trọng tấn công, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế. Một số bệnh ở ngan khi đã bị bột phá sẽ nhanh chóng lây lan cho cả đàn, cả vùng rộng lớn và kéo dài trong một thời gian mới có thể dập tắt được như bệnh dịch tả vịt, bệnh phó thương hàn, bệnh tụ huyết trùng và bệnh cúm gia cầm.

    3. Ngan nhà

    Ngan nhà (Danh pháp khoa học: Cairina moschata forma domestica) là loại ngan đã được thuần hóa, chọn giống trở thành một loài gia cầm và được đưa vào chăn nuôi rộng rãi để lấy các sản phẩm như thịt, trứng và lông cho nhu cầu của con người. Ngan nhà được thuần hóa đầu tiên tại châu Mỹ thời kỳ Tiền Kha Luân Bố (pre-Columbian times) bởi những người da đỏ bản địa ở đây từ những phân loài ngan hoang dã biết bay. 

    Người Tây Ban Nha đã gọi loài ngan nhà với cái tên là pato criollo hay là vịt creole (vịt của người Creole bản địa), ngoài ra còn có những cái tên bằng tiếng Tây Ban Nha khác để chỉ về giống này như pato casero (tức là vịt backyard) hay pato mudo (tức vịt câm).

     

    Tổng quan

    Thịt ngan cũng được ưa chuộng hơn so với phần lớn thịt từ các giống vịt nhà (có lẽ là hậu duệ đã thuần hóa của vịt cổ xanh) do nạc hơn, chứ không chứa nhiều mỡ như thịt vịt, độ nạc và mềm của thịt ngan có thể so sánh với thịt bê. Các giống ngan thuần hóa thường có các đặc trưng bộ lông khác với của ngan hoang. Loại ngan có lông trắng thích hợp cho sản xuất thịt. Ngan mái nặng khoảng 2–5 kg (5-10 pao); ngan trống nặng khoảng 5–8 kg (10-17 pao). Ngan thuần hóa có thể sinh sản tới 3 lần mỗi năm. Một số ngan nuôi đã thoát ra ngoài hoang dã và hiện tại sinh đẻ ngoài khu vực bản địa của chúng, như ở Tây Âuvà Hoa Kỳ. Ngan thịt sinh trưởng, phát triển nhanh, tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng thấp, tỷ lệ nuôi sống cao, bộ lông phát triển bình thường.

     

    Ngan không những dễ nuôi, nhanh lớn, tiêu tốn ít thức ăn, tỷ lệ nuôi sống cao mà giá cả cũng rất hợp lý. Ngan có thể lai ghép chéo với vịt nhà để sinh ra con lai vô sinh tức loài hỗn chủng (vịt Mulard). Ngan đực đã được lai ghép ở quy mô thương mại với vịt mái bằng cách thụ tinh tự nhiên hoặc nhân tạo. Khoảng 40-60% trứng nở thành vịt Mulard được nuôi để lấy thịt. Tương tự, việc lai ghép giữa vịt cổ xanh trống với ngan mái là có thể, dù con lai của chúng lại không cho thịt hay trứng với các đặc trưng mong muốn.Các con lai này thường được dùng trong sản xuất gan béo (foie gras). Một lá gan ngan thông thường có khối lượng 1 – 2 gam nhưng cũng nhờ chăn nuôi, có thể đạt đến trọng lượng từ 5 – 8 lạng. Gan ngan là món ăn yêu thích của người Pháp

    Tại Israel người ta đã lai ghép ngan với vịt cổ xanh để sản xuất các sản phẩm ăn kiêng của người Do Thái (kosher) từ vịt. Địa vị thức thức ăn kiêng của ngan là chủ đề tranh luận của người Do Thái trong trên 150 năm qua.Ngan nuôi tại Việt Nam hiện nay là các giống (ngan dé, ngan trâu v.v) của ngan bướu mũi đã thuần hóa, với số liệu ước tính theo FAO là khoảng 30.000 tới 100.000 con vào năm 1997.

     

    4. Kỹ thuật ấp trứng ngan

    4.1.   Chọn trứng ấp cho ngan

         -    Trứng để ấp chọn những quả vỏ sạch sẽ không dính phân, bùn, không dập vỡ. Khối lượng trứng từ 65-75 g.

    Trứng ngan không tròn quá cũng như không dài quá. Không đứt giây chằng không loảng lòng. Soi trứng lên không có dị vật, vết máu.

     

    4. 2.    Bảo quản trứng ngan

    Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng trứng bảo quản

    + Nhiệt độ:

    Cần bảo quản trứng ở nhiệt 15-20°C. Khi nhiệt độ bảo quản lên cao sẽ làm cho phôi phát triển, song nên nhiệt độ không thích hợp sẽ gây chết phôi. Trứng ngan bảo quản trong 7 ngày ở nhiệt độ 28-33°C không ánh hưởng đến kết quả ấp nở. Có thể bảo quản trứng ngan đến 14 ngày ở 18-20°C vẫn cho tỷ lệ nở khá. Cần đảo trứng 1 lần/ngày với góc 180°. Tại các hộ gia đình có thể xếp trứng lên khay (để nằm ngang), nơi thoáng mát không bị hấp thụ nhiệt, không để trứng chồng lên nhau

    + Ẩm độ:

    Ẩm độ thích hợp trong bảo quản là 75-82%. Ẩm độ thấp sẽ làm trứng bốc hơi nước, ẩm độ cao sẽ làm cho nấm mốc phát triển.

    + Sự giảm khối lượng trứng trong thời gian bảo quản

    Trứng ngan bảo quản ở nhiệt độ 25-33°C trong 1 ngày giảm khối lượng 0,81%. Nếu khối lượng giảm hơn 1% tỷ lệ nở sẽ giảm rõ rệt.

    + Các chú ý khác:

    -    Xếp trứng trong thời gian bảo quản: Trứng xếp trong khay, để nghiêng 30° hoặc nằm ngang, buồng khí xếp lên trên (đầu tủ), đầu nhỏ cho xuống dưới.

    4.3.    Ấp trứng ngan bằng ngan mái (ấp tự nhiên)

    Chọn trứng tươi mới đẻ được 7-10 ngày để ấp, trứng để lâu hơn 10 ngày, tỷ lệ ấp nở sẽ giảm. Nếu có nhiều trứng cũng chỉ xếp từ 20-25 quả một ổ cho 1 mái ấp, Xếp nhiều trứng 1 ổ, ngan mái không phủ kín trứng, nhiệt độ ấp các trứng không đều ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ nở

    Trong 10 ngày đầu ngan mái tự sản ra nhiệt độ khoảng 38°5, sau đó khoảng 37°8, giảm dần xuống 37°2.

    Trong những ngày đầu, con mái không rời khỏi ổ lúc nào, vì vậy cần cho ngan mẹ ăn uống ngay cạnh ổ. Những ngày sau ngan mẹ rời ổ ngày 1 đến 2 ỉần, rồi tăng số lần rời ổ để xuống ăn uống nhiều hơn.

    Trong ấp tự nhiên không cần sự can thiệp của con người, chỉ cần chăm sóc con mẹ và bảo quản trứng trong ổ ấp.

    Trứng ngan ấp 33-35 ngày thì nở. Những ngan con nở từ ngày 36 trở đi thường yếu không nuôi được. Vì vậy đến hết ngày thứ 35 người ta cho xuống ổ để nuôi ngan con. Tỷ lệ nở trên 90% so với trứng có phôi là đạt yêu cầu.

     

    4.4.    Ấp trứng ngan nhân tạo bằng máy ấp trứng ngan

    4.4.1. xếp trứng

         Xếp trứng ngan vào khay ấp bằng gỗ, xếp trứng nghiêng 30°. Tránh rơi trứng trong quá trình đảo trứng.

    4.4.2. Nhiệt độ, độ ẩm trong máy ấp

    Ấp trứng ngan nội

    Giai đoạn ấp, nở

    Ngày ấp

    Nhiệt độ

    Độ ẩm (%)

    Giai đoạn ấp

    1-9

    38°2-38°3

    64-65

    Giai đoạn ấp

    10-30

    37°6-37°7

    55-58

    Giai đoạn nở

    31-35

    37°3-37°4

    80-85

     

    Ấp trứng ngan Pháp

    Giai đoạn ấp, nở

    Ngày ấp

    Nhiệt độ

    Độ ẩm (%)

    Giai đoạn ấp

    1-11

    38°2-38°5

    64-65

    Giai đoạn ấp

    12-25

    37°8-38°

    55-57

    Giai đoạn ấp

    26-30

    37°6-37°7

    55-57

    Giai đoạn nở

    31-35

    37°4-37°5

    80-85

     

         -    Để điều chỉnh chế độ nhiệt và chế độ ẩm có hiệu quả, tiến hành kiểm tra sự giảm khối lượng trứng trong quá trình ấp. Cân tổng thể 50 quả trứng có đánh dấu để 5 ngày sau lại cân số trứng đó, nếu thấy bình quân giảm 0,38g ở giai đoạn 1, 0,47g ở giai đoạn 2 và 0,36g ở giai đoạn 3, tổng cả giai đoạn đến 30 ngày ấp, giảm 13-14% là lý tưởng nhất. Nếu sự giảm lớn hơn 15% hay nhỏ hơn 12% thì tỷ lệ nở sẽ thấp.

    4.4.3. Đảo trứng ngan

    Mục đích của việc đảo trứng là tránh cho phôi khỏi sát vào vỏ, làm cho quá trình trao đổi chết được cải thiện và phôi phát triển tốt, nhất là giai đoạn đầu và giai đoạn giữa.

    Trứng được đảo một góc 90° nếu xếp nghiêng, đảo 180° nếu xếp nằm ngang, trứng được đảo 2 giờ/lần. Mỗi ngày đảo 10-12 lần. Nếu 6 ngày đầu không đảo, phôi chết, dính vào vỏ và không di động, sau 13 ngày không đảo, túi niệu không khép kín được, lượng albumin nằm bên ngoài túi niệu dẫn đến tỷ lệ chết phôi cao, mổ vỏ không đúng vị trí, phỏi dị hình ở phần mắt, mỏ và đầu.

    4.4.4. Thông thoáng

    Trứng vịt và trứng ngan có khối lượng 70-80 g hấp thụ 9169cm3 (Oz) oxy và thải 6607cm3 cacbonic (CO2), trứng gà hấp thụ 4000cm3 O2 và thải 3536cm3 CO2 Chính vì vậy trong máy ấp luôn phải đảm bảo 21% O2 và không quá 0,04-0,1% khí cacbonic. Nếu khí cacbonic lóm hơn 0,4% sẽ có hại tới sự sinh trưởng và phát triển của phôi thai, gây tỷ lệ chết cao, nồng độ O2 cũng không thể thấp hơn dưới 15%.

    Vận tốc gió trong máy ấp 77 cm/giây, tốc độ quạt xấp xỉ 300 vòng/phút với máy ấp. Máy nở vận tốc gió 40-45 cm/giây.

    Nếu 8 ngày ấp mà không khí lưu thông không đều sẽ làm phôi phát triển cũng không đều, chỗ nhanh, chỗ chậm. Sau 15 ngày, vị trí phôi không đúng, phôi phát triển không đều và sau 28-30 ngày phôi chết, có hiện tượng xuất huyết. Trong máy ấp, lỗ thông thoáng được mở 1/5 ở những ngày đầu, sau đó nới dần, càng tăng ngày ấp, càng mở rộng. Những ngày cuối, mở toàn bộ đặc biệt là mùa nóng. Mùa đông cần quan tâm đến nhiệt độ môi trường và kiểm tra nhiệt độ máy. Nếu nhiệt độ xuống thấp phải đóng bớt cửa lại. Đối với máy thủ công ngày đầu để hở 3 lồng thoáng, sau đó tháo dần lỗ thoáng ra những ngày cuối mở hết các lỗ thông thoáng.

    4.4.5. Làm mát trứng ngan

    Không thể thiếu được chế độ làm mát quá trình ấp trứng thuỷ cầm do cấu trúc vỏ và các thành phần dinh dưỡng bên trong quả trứng.

    Quy trình về chế độ làm mát trứng

    Theo kinh nghiệm có 3 chế độ làm mát trứng ngan, vịt được tổng kết như sau:

    Chế độ quy định

    Đơn 

    vị

    Chế độ 1

    Chế độ 2

    Chế độ 3

    Số lần làm mát

    Lần

    1

    2

    3

    Ngày bắt đầu và kết thúc giai đoạn làm mát

    Ngày

    thứ

    9-31

    7-20

    21-31

    1-14

    15-24

    25-31

    Thời gian làm mát

    Phút

    9 phút ngày đầu, sau 1 ngày + 1 phút tăng đến 25 phút giữ đến khi ra nở

    9 phút ngày đầu,, sau 1 ngày + 1 phút tăng đến 25 phút giữ đến khi ra nở

    9 phút ngày đầu,, sau 1 ngày + 1 phút tăng đến 25 phút giữ đến khí ra nở

    Thời gian đưa ra làm mát

    Giờ

    11 giờ sáng

    9 giờ sáng 16 chiều

    9 giờ sáng 16 giờ chiều 22 giờ đêm

     
    Trong 11 ngày đầu tiên làm mát chỉ đơn giản là tắt máy, mở cửa hoặc lấy trứng ra khỏi máy. Từ ngày thức 12 trở đi, sau khi cho trứng mát tự nhiên khoảng 10 đến 15 phút thì dùng bình xịt nước xịt lên trứng để làm mát và làm mềm vỏ trứng.
    Chế độ 3 cho tỷ lệ ấp nở cao nhất.

    4.4.6. Kiểm tra sinh vật học

    Cẩn kiểm tra sinh vật học thông qua soi trứng trong các giai đoạn ấp để biết khả năng phát triển của phôi và khả năng nở của mỗi lứa ấp. Lần 1 lúc 9 ngày, lần 2 lúc 17 ngày, lần 3 lúc 30 ngày.

    + Mục đích kiểm tra

    -    Xác định được chất lượng sinh học của trứng.

    -    Cho phép lập chế độ ấp trong những điều kiện cụ thể.

    -    Xác định được nguyên nhân các đợt ấp kém.

    -    Định ra phương hướng để nâng cao kết quả ấp nở

    + Phương pháp kiểm tra

    Dùng đèn soi để kiểm tra, loại những quả trứng trắng, trứng chết phôi để tiết kiệm chỗ, tránh ô nhiễm và xác định thời điểm phôi chết để có biện pháp cải thiện chế độ áp hay cải thiện chế độ nuôi dưỡng tránh gây thiệt hại không cần thiết, nâng cao hiệu quả kinh tế.

    Góc xếp trứng ngan: xếp nằm ngang (nếu cần diện tích máy có thể xếp nghiêng 30-45°).

    Soi trứng kỳ 1: 9 ngày ấp; kỳ 2: 17ngày ấp; kỳ 3: 30 ngày ấp.

    ---------------------------------------------------

    QUẢNG CÁO MÁY ẤP TRỨNG:

    I. DÒNG MÁY ẤP TRỨNG KEU

    Dòng máy KEU là dòng máy bền nhất, dễ sử dụng nhất và được thị trường kiểm chứng lâu nhất. Bộ điều khiển nhiệt độ của hãng Fox nổi tiếng Hàn Quốc, bộ timer đảo trứng tự động của hãng Fotex nổi tiếng Đài Loan, Rơ le đóng ngắt dòng điện made in Japan siêu bền.

    KEU30 KEU60 KEU100 KEU200 KEU300

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 60W

    Cao: 52 cm

    Ngang: 40 cm

    Sâu: 43 cm

    Trọng lượng: 7 kg

     

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 60W

    Cao: 65 cm

    Ngang: 40 cm

    Sâu: 43 cm

    Trọng lượng: 8kg

     

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 100W

    Cao: 69cm

    Ngang: 56cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 10kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 180W

    Cao: 81cm

    Ngang: 56cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 12kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 180W

    Cao: 93cm

    Ngang: 56cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 14kg

    KEU400 KEU500 KEU600 KEU800 KEU1000

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 240W

    Cao: 107cm

    Ngang: 56cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 16kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 240W

    Cao: 117cm

    Ngang: 56cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 18kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 240W

    Cao: 130cm

    Ngang: 56cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 20kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: W

    Cao: 107cm

    Ngang: 106cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 30kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: W

    Cao: 117cm

    Ngang: 106cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 35kg

     

    II. DÒNG MÁY ẤP TRỨNG SG

    Dòng máy này được trang bị đầy đủ các chức năng như đảo trứng tự động, máy phun ẩm tự động, điều khiển nhiệt độ tự động.

    SG30 SG60 SG100 SG200 SG300

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 240W

    Cao: 107cm

    Ngang: 56cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 16kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 60W

    Cao: 65 cm

    Ngang: 40 cm

    Sâu: 43 cm

    Trọng lượng: 8kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 100W

    Cao: 69cm

    Ngang: 56cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 10kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 180W

    Cao: 81cm

    Ngang: 56cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 12kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 180W

    Cao: 93cm

    Ngang: 56cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 14kg

    SG400 SG500 SG600 SG800 SG1000
       

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 240W

    Cao: 107cm

    Ngang: 56cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 16kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 240W

    Cao: 117cm

    Ngang: 56cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 18kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: 240W

    Cao: 130cm

    Ngang: 56cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 20kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: W

    Cao: 107cm

    Ngang: 106cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 30kg

    Điện áp: 220V

    Công Suất tối đa: W

    Cao: 117cm

    Ngang: 106cm

    Sâu: 63cm

    Trọng lượng: 35kg

    III. MÁY ẤP TRỨNG CHO TRANG TRẠI

    Máy ấp 5000 trứng MB5K Máy ấp 8000 trứng MB8K Máy ấp 10.000 trứng MB10K
    Lõi máy 5000 trứng Lõi máy 8000 trứng Lõi máy 10.000 trứng
    Máy 15000 trứng MB15K Cánh quạt gió Một số hình ảnh

     

    Tin khác